Skip to main content

Cho tôi chút nước uống (12.03.2023 – Chúa Nhật 3 Mùa Chay, Năm A)

"Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !" (Ga 4,35). Hôm nay Chúa Giêsu vẫn nói với chúng ta như thế.
Cho tôi chút nước uống (12.03.2023 – Chúa Nhật 3 Mùa Chay, Năm A)
"Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !" (Ga 4,35). Hôm nay Chúa Giêsu vẫn nói với chúng ta như thế.
LỜI CHÚA: Ga 4, 5-42

Khi ấy Ðức Giêsu đến một thành xứ Samaria, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào mười hai giờ trưa.

Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Ðức Giêsu nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống!” Quả thế, các môn đệ của Người vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Samari liền nói: “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?” Ðức Giêsu trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống? Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” Ðức Giêsu trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

Người phụ nữ nói với Ðức Giêsu: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” Người bảo chị ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi hãy trở lại đây.” Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng.” Ðức Giêsu bảo: “Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” Người phụ nữ nói với Người: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” Ðức Giêsu phán: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các ngươi thờ Ðấng các ngươi không biết; còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” Người phụ nữ thưa: “Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Ðức Giêsu nói: “Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.” Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: “Thầy cần gì vậy?” hoặc “Thầy nói gì với chị ấy?”

Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Ðến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Ðấng Kitô sao?” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: “Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa.” Người nói với các ông: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” Các môn đệ mới hỏi nhau: “Ðã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?” Ðức Giêsu nói với các ông: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. Thật vậy, câu tục ngữ ‘kẻ này gieo, người kia gặt’ quả là đúng! Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Ðức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Ðấng cứu độ trần gian.”

SUY NIỆM

Trong Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay, chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu gặp gỡ người phụ nữ xứ Samari. Chúng ta học được nơi Đức Giêsu cách gặp gỡ tha nhân. Và chúng ta cũng thấy bóng dáng mình nơi người phụ nữ.

Đức Giêsu đến với vùng đất dân ngoại
Đức Giêsu không ngại đi băng qua vùng Samari.
Nhiều người Do-thái tránh không đi qua vùng này,
vì đất của người Samari bị họ coi là ô uế.
Thật ra dân Samari trước đây cũng là người Do-thái,
nhưng họ đã sống chung đụng nhiều với dân ngoại.
Sau đó họ tách thành một dân riêng,
không thờ phượng Thiên Chúa ở Đền thờ Giêrusalem nữa,
nhưng ở trên ngọn núi Garidim.
Người Do-thái tỏ ra khinh bỉ và có thái độ thù nghịch với người Samari.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không khinh dân Samari, hay coi đất của họ là ô uế.

Đức Giêsu vượt qua những ngăn cách về văn hoá, tôn giáo, quốc gia
Tại giếng của ông Gia-cóp, lúc giữa trưa nắng gắt,
Đức Giêsu mệt mỏi nên ngồi nghỉ chân (Ga 4,6).
Tình cờ có một phụ nữ Samari đến lấy nước.
Chuyện chị đi lấy nước một mình vào giờ này là chuyện lạ,
vì phụ nữ thường không ra giếng vào giữa trưa.
Đức Giêsu chủ động bắt chuyện với chị,
dù người Do-thái không giao thiệp với người Samari.
Hơn nữa, vào thời Đức Giêsu,
người phụ nữ không được tiếp xúc với người ngoài gia đình của mình.
Đức Giêsu dám gặp gỡ một phụ nữ, mà lại là một phụ nữ người Samari.
Hành động này của Ngài đã làm cho các môn đệ rất ngạc nhiên (Ga 4,27).

Đức Giêsu đến như một người cần giúp đỡ
"Chị cho tôi uống với !" (Ga 4,7).
Câu nói đầu tiên của Đức Giêsu với người phụ nữ Samari là một lời xin.
Ngài xin nước của chị vì Ngài khát.
Đức Giêsu không đến như một người có cái gì để cho,
nhưng đến như một người cần sự giúp đỡ.
Xin là cho thấy mình cần đến người khác, và tin vào lòng quảng đại của họ.
Chị phụ nữ này hẳn đã ngạc nhiên biết bao
khi thấy một người đàn ông Do-thái xin mình nước uống (Ga 4,9).
Đức Giêsu không hề coi nước giếng này là ô uế
bởi lẽ nó được kéo lên bởi một phụ nữ ô uế,
trên một vùng đất ô uế.
Lời xin khiêm hạ của Ngài đã làm cho cuộc đối thoại trở nên dễ dàng, cởi mở.

Đức Giêsu đi từ chuyện Ngài xin chị nước giếng
đến chuyện Ngài hứa cho chị một thứ nước khác : nước hằng sống,
nước uống vào sẽ muôn đời không còn khát nữa (Ga 4,14).
Đức Giêsu khơi dậy nơi chị lòng khao khát về thứ nước kỳ diệu ấy.
Cuối cùng, chính chị đã xin Ngài cho chị thứ nước đó,
vì chị tưởng đó là thứ nước giúp chị khỏi phải đi kéo nước nữa (Ga 4,15).

Đức Giêsu quan tâm đến đời sống riêng tư của người đối diện
Khi cuộc đối thoại đã tương đối cởi mở hơn,
Đức Giêsu gợi lên chuyện chồng con của chị.
Ngài cho thấy mình biết rõ hoàn cảnh khó khăn của chị.
Ngài thông cảm với việc chị đã có năm đời chồng,
và người chị đang chung sống cũng không phải là chồng của chị (Ga 4,18).
Hiểu biết chính xác về chị của một người xa lạ tình cờ gặp bên giếng
đã làm chị kinh ngạc.
Chị cảm thấy ông này không phải là một người Do-thái bình thường,
nhưng là một vị ngôn sứ của Thiên Chúa (Ga 4,19).

Đức Giêsu bàn đến vấn đề người kia quan tâm
Khi bắt đầu tin rằng người đang nói với mình là một vị ngôn sứ,
chị lập tức chuyển câu chuyện sang đề tài tôn giáo.
Chị đặt vấn đề về nơi thờ phượng đích thật:
Nên thờ phượng ở Giêrusalem hay trên núi Ga-ri-dim (Ga 4,20)?
Đây là một đề tài tranh cãi giữa người Do-thái với người Samari.
Đức Giêsu đã soi sáng cho chị về một chuyện quan trọng hơn :
thế nào là việc thờ phượng đích thực dành cho Thiên Chúa (Ga 4,21-24).
Khi chị nói lên niềm mong chờ của chị, cũng là của những người Samari,
chờ Đấng Mêsia đến để Ngài mặc khải cho họ mọi sự,
thì Đức Giêsu đã cho chị biết :
"Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây" (Ga 4,26).
Lần đầu tiên Đức Giêsu minh nhiên nhận mình là Đấng Mêsia.
Ngài không chỉ là một ngôn sứ như chị nghĩ.

Người phụ nữ Samari trở thành người loan báo Tin Mừng
Chúng ta không rõ chị tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia đến mức nào,
nhưng chắc chắn lòng chị đang cảm nếm một niềm vui khôn tả.
Chị hạnh phúc vì gặp được một người biết cả quá khứ và hiện tại của chị,
một người đón nhận tất cả thân phận phụ nữ của chị,
với những bóng tối và buồn đau.
Chính vì thế chị lập tức muốn chia sẻ niềm vui này cho dân thành của chị.
Để vò nước lại, chị vội vã đi về thành mà hô hào mọi người :
"Đến mà xem, có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.
Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao ?" (Ga 4,29).

Đây thật là một lời mời đầy phấn khởi và lôi cuốn.
Hãy đến mà gặp một con người biết tỏ tường mọi sự tôi đã làm.
Biết đâu ông ấy chính là Đấng Mêsia mà chúng ta hằng mong đợi ?
Nghe lời hô hào của chị, người dân đã ra khỏi thành để đến gặp Đức Giêsu.
Như thế từ một người được nghe Đức Giêsu loan báo Tin Mừng,
chị đã trở thành một người đi loan báo Tin Mừng cho người khác.
Chị đã có kinh nghiệm được gặp
và được nghe người đàn ông ngồi bên bờ giếng.
Nay chị cũng muốn mọi người trong thành
cũng có kinh nghiệm tương tự như mình : Hãy đến mà xem.
Chị đã thành công trong việc lôi kéo người ta đến với Đức Giêsu.

Nhiều người Samari đã đến gặp Đức Giêsu và tin vào Ngài,
vì họ tin vào lời làm chứng của người phụ nữ :
"Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm" (Ga 4, 39).
Ngay cả một người có đời sống không gương mẫu
cũng có thể đi loan báo Tin Mừng,
cũng có thể là trung gian cho cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và nhiều người khác.

Người phụ nữ làm trung gian để người khác gặp Đức Giêsu
Người vùng Samari đã tin vào Đức Giêsu
trước tiên là nhờ lời chứng của người phụ nữ.
Họ đã đến gặp trực tiếp Đức Giêsu, và cũng bị lôi cuốn bởi con người Ngài,
đến nỗi họ xin Ngài ở lại với họ (Ga 4, 40).
Hai ngày ở lại với dân Samari là hai ngày trò chuyện và lắng nghe.
Đức Giêsu đã trò chuyện với người phụ nữ bên bờ giếng,
bây giờ Ngài trò chuyện với dân vùng Samari tại chính thành phố của họ.
"Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa" (Ga 4,41).

Chị phụ nữ đã làm xong nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ giới thiệu Đức Giêsu.
Chị chấp nhận rút lui,
và hẳn chị rất vui sướng khi thấy người ta đến với Đức Giêsu và nghe lời Ngài.
Chị đâu có buồn khi người ta nói với chị :
"Chúng tôi tin, không còn phải vì lời chị kể nữa !
Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng
Người thật là Đấng cứu độ trần gian" (Ga 4,42).
Người loan báo Tin Mừng có lúc phải rút lui
để cho Chúa và con người gặp nhau.
Lời loan báo của tôi có lúc phải nhường bước
để cho Lời của Chúa nói trực tiếp với lòng mỗi người.

Trân quý giá trị của mỗi cuộc gặp gỡ cá nhân
Chị phụ nữ Samari tin Đức Giêsu là một vị ngôn sứ.
Sau đó Đức Giêsu nhận mình là Đấng Mêsia.
Cuối cùng dân vùng Samari tin Đức Giêsu là Đấng cứu độ cho cả thế giới.
Tất cả khởi đi từ một cuộc gặp gỡ riêng tư bên bờ giếng, lúc chính ngọ.
Ai có ngờ một cuộc gặp gỡ nhỏ bé như thế
lại có thể đem đến một hoa trái lớn lao như vậy.
Chúng ta cần biết quý những cuộc gặp gỡ cá nhân,
coi đó như những bước chuẩn bị cho Đức Giêsu đến với một tập thể.

"Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !" (Ga 4,35).
Hôm nay Chúa Giêsu vẫn nói với chúng ta như thế.
Ngài chỉ cho chúng ta những đồng lúa chín vàng.
Đã có những người khác gieo trồng và làm lụng vất vả.
"Thầy sai anh em đi gặt những gì anh em đã không vất vả làm ra;
còn anh em lại được vào hưởng kết quả công lao của họ" (Ga 4,38).

Nguyễn Cao Siêu
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cho-toi-chut-nuoc-uong-15-3-2020-chua-nhat-3-mc-nam-a--39326